Nhà thơ Cầm Giang
Cầm Giang (1931-1989) tên khai sinh là Lê Gia Hợp, tên thường gọi là Lương Cầm Giang. Ông sinh ngày 2-5-1931 tại xóm 3, thôn Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, Hoằng hoá, Thanh Hoá, ở tại thôn Khách Nhi, xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp chính của ông là y tế sơ cấp và dạy học. Cha ông là Lê Gia Tượng là người giầu có (địa chủ), nên ông được học hành tử tế, vào loại có học vấn khá, từng dịch thơ Victor Hugo, văn O.Balzac… Ông là con trai lớn nên khi mới 11 tuổi đã phải lấy vợ là Lê Thị Vịnh.
Tham khảo thủ tục ==> Thành lập doanh nghiệp tại Thanh Hóa

Tiểu sử:
- Do ảnh hưởng thơ văn thời “Tự lực văn đoàn”, năm 15 tuổi còn đang học trung học, ông bỏ nhà ra Hà Nội đi bán báo kiếm sống. Ông được ông Lương Hữu Ca (quê Khách Nhi, Vĩnh Phúc, vợ con chết đói, ra Hà Nội đạp xích lô) cưu mang Lê Gia Hợp. Sau 3 năm vừa tròn 18 tuổi ông xin phép ông Ca cho vào Vệ Quốc Đoàn (Bộ đội Cụ Hồ). Ông tự đặt cho mình cái tên Cẩm Giang và lấy họ của cha nuôi là họ Lương.
- Tháng 2-1950 ông làm y tá ở F.335. Thời kỳ này ông bắt đầu sáng tác thơ văn với bút danh Cẩm Giang (một địa danh ở quê Thanh Hoá) nhưng do sơ xuất cô đánh máy đánh nhầm là Cầm Giang (vì ở Tây Bắc chỉ có họ Cầm, chứ không có ai mang họ Cẩm cả). Còn một lý do nữa mà bây giờ nói ra nghe khó tin là hồi ấy buổi đầu cách mạng báo chí rất kỵ kiểu thơ tình “anh anh em em” lãng mạn, lại với lý lịch địa chủ, học trường Pháp cùng ảnh hưởng thơ mới, nếu sáng tác ký tên Lê Gia Hợp thì rất khó in, mặt khác những bài thơ như “Em tắm”, “Nhớ vợ”… với những chi tiết nude “vớ vẩn” ở thời điểm ấy là không thích hợp. Với giải pháp lấy họ tên dân tộc thiểu số (một kiểu “lừa” ban biên tập ở mãi nơi xa xôi khó mà hỏi ra được) để BBT họ cho là: dân tộc họ viết như thế mà, chân thật chất phác… cần ưu tiên châm chước cho “Pi no ọng”. Và quả nhiên, các bài thơ ấy dưới cái “lốt” Cầm Giang, Cầm Vĩnh Ui, Bạc Văn Ùi được in ra đời. Năm 1958 ông xuất ngũ về quê bố nuôi lây vợ là Nguyễn Thị Kiên. Năm 1962 ông mới về Thanh Hoá làm thủ tục ly dị với vợ cũ là Lê Thị Vịnh.
Năm 1968 chị Nguyễn Thị Kiên mất, ông khóc:
Anh mất em rồi, anh mất em
Còn đâu má thắm nụ cười duyên
Tình em trong trắng, kiên trì lắm
Có phải em về lại cõi tiên?
Người vợ thứ ba là bà Đỗ Thị Chất:
Ta tìm đến nhau giữa mùa lúa mới
Lúc đàn chim sà xuống sân rơm
trong tiếng trẻ vòi mở vội nồi cơm
Chào nhau bằng câu hỏi thăm con…
Cầm Giang là một nhà thơ lãng mạn cách mạng trữ tình độc đáo thấm đẫm hồn quê Xứ Thái (Tây Bắc) đã để lại 3 bài thơ tình độc đáo ít ai có được.
Tác phẩm:
Tại buổi lễ, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã long trọng trao tặng Giải thưởng Cống hiến Hội Nhà văn Việt Nam (đợt 1) cho 22 tác giả, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học đã qua đời. Đây là những tác giả, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học đã có những tác phẩm, những công trình nghiên cứu và dịch thuật văn học có giá trị, để lại những dấu ấn trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam 60 năm qua. Trong đó có 3 tác giả người Thanh Hóa gồm: nhà văn Nguyễn Thế Phương với các tác phẩm: “Đào chèo”, “ Đi bước nữa”, “Nắng”…; nhà văn Xuân Sách với các tác phẩm “Đội du kích thiếu niên Đình Bảng”, “Mặt trận quê hương”, thơ “Cõi người”…; nhà thơ Cầm Giang với các tác phẩm: “Em tắm”, “Núi Mường Hung, dòng sông Mã”, “Nhớ vợ”…
- Gió núi biên phòng
- Rừng trắng hoa ban
- Người bản Nà Phiêu
- Nà Phiêu đánh Mỹ
- Em tắm
- Nhớ vợ
- Núi Mường Hung, dòng sông Mã